Saigon có một vị
trí đặc biệt, là ranh giới và là cửa ngỏ của miền Tây nam bộ và miền Đông
nam bộ. Miền Tây Nam bộ nhiều người đã viết về con người, sự phong phú,
phát triển của miền sông nước này. Đông Nam Bộ xưa là vùng giao thoa của
văn minh Khmer, Champa nay là của Khmer, Chăm và Việt. Bài này tôi muốn
viết về địa lý và phát họa vài nét về con người và lịch sử vùng đất Đông
Nam bộ, đặc biệt là cột xương sống giao thông Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận
hiện nay và xưa kia của hai nền văn minh Khmer và Champa và trước đó của
văn hoá Sa Huỳnh và Óc Eo. Về địa lý thì Saigon là trung tâm của lưu vực
từ sông Đồng Nai tới sông Vàm Cỏ, vì thế là một phần và là trọng điểm của
miền Đông Nam Bộ. Đông Nam bộ có lịch sử lâu đời là vùng giao tiếp của 2
nền văn minh lớn Champa và Khmer thuở xưa và cũng là vùng có nhiều dân tộc
ít người có liên hệ mật thiết về ngôn ngữ, văn hóa với thế giới Chăm và
Mon-Khmer mà tiếng Việt là một nhánh. Đây cũng là vùng cư ngụ của dân tộc
Stieng, Mạ, Mnong, Chu Ru (Châu Ro). Vì là vùng giao tiếp, các dân tộc ở
đây nói tiếng thuộc hai hệ ngôn ngữ chính Mon-Khmer (Khmer, Stieng, Mnong),
và Nam đảo Austronesian (Chăm, Chu Ru, Mạ, Jarai, Rade, Ede). Trước khi
người Việt, Khmer và Chăm đến thì cả vùng Saigon, Đông Nam Bộ là cư dân
Stieng, Chu Ru và Mạ cư ngụ chủ yếu dọc sông Đồng Nai, Saigon từ thượng
nguồn tới gần cửa biển Cần Giờ.
Vùng Tây Ninh, Sông Bé (Bình Dương), Biên Hoà-Xuân Lộc (Đồng Nai), Phan
Thiết (Bình Thuận) là trục lộ mà xưa kia người Khmer và Chăm giao tiếp
qua lại, các cuộc chuyển quân đánh nhau là qua vùng này. Vì thế không
lạ gì mà ta vẫn còn thấy dấu tích và ảnh hưởng của nghệ thuật, văn hóa
của hai nền văn minh này trong khu vực. Người Khmer và người Chăm còn
sống rãi rác trong vùng. Ở Tây Ninh có hai kiến trúc tháp (prasat) khmer
còn nguyên là tháp Bình Thạnh, tháp Chót Mạt và các di tích ở Bến Cầu,
Trãng bàng, Gò Dầu. Thủ Dầu Một, thủ phủ của tỉnh Bình Dương (Sông Bé),
là từ tiếng Khmer (Tuol Tam Mot, nghĩa là vùng đất đồi). Từ tiếng Chăm,
ta có các địa danh như mủi Cà Ná (kana), núi Chứa Chan (Chok Chon, nghĩa
là núi non) ở Bình Thuận hay các địa danh từ tiếng Stieng như Bù Đăng,
Bù Đốp, Bù Trăng Lơ, Bù Gia Mập, Bù Na, Bù Xa, Bù Blim, Bù Prang ở Bình
Dương, Bình Phước và Bù Go ở Nam Cát Tiên, Đồng Nai (Bù tiếng Stieng có
nghĩa là làng).
Đông Nam bộ cũng là nơi con người đã có mặt lâu đời từ 2000-3000 năm
trước đây, các di chỉ khảo cổ tìm thấy các hiện vật gốm, đồ đá (đẻo và
mài) như rìu đá, dao, cuốc đá, đồ đục bằng đá và cùng với vùng Tây Nguyên,
là quê hương của những bộ đàn đá độc đáo Bình Đa (Đồng Nai), Mỹ Lộc (Bình
Dương) trong lịch sử âm nhạc con người, chứng tỏ đàn đá không những có
từ Tây Nguyên mà còn ở các làng của các cư dân sống dọc sông Đồng nai
ở Đông Nam Bộ. Đồ đồng như gươm, rìu cũng được tìm thấy ở Long Giao, Xuân
Lộc, trống đồng Heger 1 ở Bình Phú (Bình Dương) và Vũng Tàu. Mộ chum thuộc
văn hóa Sa Huỳnh và các dụng cụ đá thô sơ ở Dầu Giây (Đồng Nai). Đặc biệt
là mộ cổ cự thạch (dolmen) gồm các đá lớn ở Hàng Gòn, Xuân Tân (Đồng Nai)
của cư dân thời đại đá cách đây hơn 2500 năm. Hơn 50 di chỉ thời đá mới
đã được tìm ở vùng sông Đồng Nai và lân cận, đây là bằng chứng cho thấy
Văn hóa Đồng Nai thời đá mới đã phát triển sâu rộng trên địa bàn Đông
Nam bộ.
Địa danh Đồng Nai xưa kia trước nhất cũng đã từng để chỉ cả vùng Đông
nam bộ hay vùng Nam bộ sau này. Đây là những nơi sung túc, gạo lúa nhiều,
nước trong lành (“Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai”) (6)
Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô
hay
Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha, trốn mẹ xuống đò theo anh
và trong câu nói dân gian thuở xưa “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”
(hai huyện đây là Phong Lộc và Lệ Thuỷ ở Quảng Bình có tiếng giàu lúa
gạo).
Một vùng đất mới mở ra cho người Việt nhưng có bề dầy lịch sử và văn
hóa lâu đời của những nền văn minh xưa. Đất vùng Đông Nam Bộ là đất bồi
của phù sa cổ so với đất phù sa mới của Tây Nam Bộ nên con người cũng
định cư ở đây từ lâu đời hơn. Các di chỉ tiền sử thời đá củ và mới đều
được phát hiện ở vùng Đông Nam Bộ.
Tôi viết qua kinh nghiệm trong chuyến đi gần đây và có thể coi như một
phóng sự hay bút ký về sự kiện xảy ra hiện nay và chúng cũng có thể được
coi như là sự nối tiếp gắn liền với lịch sử đã qua.
Để có thể hiểu được một phần vùng đất nơi nền văn minh bản sứ và nhiều
nền văn minh lân cận gặp gỡ, chúng ta hãy trở lại trên trục lộ giao thông
nối các nền văn minh Khmer và Champa, Óc Eo và Sa Huỳnh. Trước hết ta
hảy phát họa sơ lược về lịch sử vùng Đông Nam Bộ.