Năng lượng là
một trong những nhu cầu thiết yếu của con người và là một yếu tố đầu vào
không thể thiếu được của hoạt động kinh tế. Khi mức sống của người dân
càng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu
cầu về năng lượng cũng ngày càng lớn, và việc thỏa mãn nhu cầu này thực
sự là một thách thức đối với hầu hết mọi quốc gia. Ở Việt Nam, sự khởi
sắc của nền kinh tế từ sau Đổi Mới làm nhu cầu về điện gia tăng đột biến
trong khi năng lực cung ứng chưa phát triển kịp thời. Nếu tiếp tục đà
này, nguy cơ thiếu điện vẫn sẽ còn là nỗi lo thường trực của ngành điện
lực Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp và người dân cả nước.
Bài viết này được bố cục như sau. Trong phần đầu tiên, chúng tôi sẽ
phân tích một cách ngắn gọn tình hình cung - cầu điện năng ở Việt Nam.
Sau đó, bài viết bàn đến một số lựa chọn của Việt Nam trong việc giải
quyết bài toán thiếu hụt điện năng. Về dài hạn, chúng tôi cho rằng bên
cạnh việc khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chúng ta phải chuyển
dần sang các dạng năng lượng mới, đặc biệt chú trọng tới các nguồn năng
lượng có khả năng tái tạo và thân thiện với môi trường. Trong phần cuối
cùng của bài viết, chúng tôi xem xét tiềm năng và tính khả thi của một
nguồn năng lượng tái tạo sạch – đó là năng lượng gió – như là một gợi
ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn năng lượng. Chúng tôi hết sức thận
trọng khi đưa ra những nhận định về các lựa chọn chiến lược nhằm đảm bảo
cung ứng điện năng phục vụ nhu cầu phát triển cũng như để đảm bảo an ninh
năng lượng của đất nước. Chúng tôi hy vọng sẽ có dịp quay lại chủ đề rất
quan trọng này trong một bài viết khác, sau khi có điều kiện tiến hành
những nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ hơn đối với bài toán an ninh năng lượng
từ góc độ kinh tế học năng lượng.
Tình hình cung - cầu điện năng ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20
năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm - tức là gần gấp đôi
tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và
duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện „dân giàu, nước mạnh“ và tránh
nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách
và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những
trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng
của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung
ứng của mình.
Việc ước lượng nhu cầu về điện không hề đơn giản, bởi vì nhu cầu về
điện là nhu cầu dẫn xuất. Chẳng hạn như nhu cầu về điện sinh hoạt tăng
cao trong mùa hè là do các hộ gia đình có nhu cầu điều hòa không khí,
đá và nước mát. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất cần điện là do
điện có thể được kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (như lao động, nguyên
vật liệu v.v.) để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng. Nói cách khác, chúng
ta không thể ước lượng nhu cầu về điện một cách trực tiếp mà phải thực
hiện một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng nhu cầu của các sản phẩm
cuối cùng (2). Nhu cầu này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào nhiều biến số kinh
tế và xã hội khác. Bảng dưới đây cung cấp dữ liệu lịch sử của một số biến
số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam trong những năm qua.
Bảng 1: Một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam (1990 – 2003)

Một cách khác để nhìn vào khía cạnh cầu về điện năng là phân tách tổng
cầu về điện theo các ngành kinh tế (Hình 1). Ta thấy số liệu ở Bảng 1
và Hình 1 tương thích với nhau. Nhu cầu về điện năng trong công nghiệp
và sinh hoạt/ hành chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nhu cầu. Năm
2005, điện phục vụ tiêu dùng và công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, lần
lượt là 43,81% và 45,91%, trong khi 11% còn lại dành cho nông nghiệp và
các nhu cầu khác. Nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tăng cao là hệ
quả trực tiếp của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế,
mà một biểu hiện của nó là tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN trung bình
trong hơn 10 năm qua đạt mức khá cao là 10,5%. Còn ở khu vực tiêu dùng,
cùng với mức tăng dân số, tốc độ đô thị hóa khá cao, và gia tăng thu nhập
của người dân, nhu cầu về điện tiêu dùng cũng tăng với tốc độ rất cao.
Kết quả là nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm,
và tốc độ tăng của mấy năm trở lại đây thậm chí còn cao hơn mức trung
bình. Theo dự báo, tốc độ tăng chóng mặt này sẽ còn tiếp tục được duy
trì trong nhiều năm tới. Đây thực sự là một thách thức to lớn, buộc ngành
điện phải phát triển vượt bậc để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển
kinh tế của đất nước.

Bây giờ hãy thử kết hợp những dự báo về nhu cầu điện năng của nền kinh
tế với năng lực cung ứng của ngành điện. Nếu tốc độ phát triển nhu cầu
về điện tiếp tục duy trì ở mức rất cao 14-15%/năm như mấy năm trở lại
đây thì đến năm 2010 cầu về điện sẽ đạt mức 90.000 GWh, gấp đôi mức cầu
của năm 2005. Theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc
độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm thì
nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh,
vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động tối đa
các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng ta cũng
chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030).
Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách nghiêm
trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu dự báo này
của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là chúng ta phải
nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất trong nước,
hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình trệ, còn đời
sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Không phải đợi đến năm 2010 hay 2020, ngay trong thời điểm hiện tại
chúng ta cũng đã được “nếm mùi” thiếu điện. Năm 2005, lần đầu tiên sau
nhiều năm trở lại đây, người dân ở hai trung tâm chính trị và kinh tế
của đất nước chịu cảnh cắt điện luôn phiên gây nhiều khó khăn cho sinh
hoạt và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế (3).
Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam
Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của
toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong
ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản suất và sinh hoạt
đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét phương
án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc tăng giá
điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt khác giúp
tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì việc tăng
giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại nhân dân và
của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá điện cần được
cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải tính đến tính
công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau, trong đó cần
hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các nhóm dân cư có
thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là một yếu tố đầu
vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tăng giá
điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ ngưỡng 2 con số.
Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì thấy ngay với mức
giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực
như Trung Quốc, Thái-lan, In-đô-nê-xia, và Ma-lay-xia. Như vậy, việc tăng
thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu
cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong
mấy năm trở lại đây.