Thử Thách Xưa và Nay trên Châu Thổ Sông Cửu Long
Các thông tin và dự báo về nguy cơ của các đập thủy điện vĩ đại của
Trung Quốc giáng xuống hạ nguồn sông Mekong đã được bàn thảo qua ba kỳ
Hội Thảo về Sông Mekong tại Nam California, qua nhừng bài khảo cứu trên
các tạp chí như Thế Kỷ 21, nhật báo Người Việt, Việt Báo, Ngày Nay và
Đi tới. The 1999 Mekong Papers, The 1999 Mekong River Declaration, các
thông tin của International Rivers Network, World Commission on Dams đã
gây chú tâm cho người Việt hải ngoại và dần dần vang vọng về nước. Nhừng
tác phẩm văn học của nhà văn Ngô Thế Vinh, các phóng sự của RFI, RFA,
BBC, và gần đây là tường trình The Global Water Crisis trên Newsweek số
tháng 7, vấn nạn nguồn nước không chỉ cam go cho Việt Nam mà là mối đe
dọa sự no ấm của cả địa cầu.
Kỹ Sư Nguyễn Hữu Chung, một dân biểu từ ĐBSL trươc 1975 và thành viên
sáng lập Mekong Forum đã cho rằng Việt Nam phải tìm một liên kết quốc
tế và hậu thuẫn chính trị quốc gia để tìm ra giải pháp bền vững cho ĐBSCL
và ông khẳng định rằng Hiệp Ước Sông Mekong 1995 của Mekong River Commission
đã không bảo vệ đươc quyền lợi sống còn của các dân tộc và hệ sinh thái
hạ nguồn. Nhà báo Lê Văn Tiến đã góp phần biên soạn Bản Tuyên Ngôn Sông
Mekong 1999 và ông chú tâm đến những hệ lụy dân cư ĐBSCL sẽ phải gánh
chịu. Mekong Forum, Vietnamese Science and Technology Society, Liên Hội
Tiền Giang Hậu Giang, Cambodian American Association và Viet Ecology Foundation,
đã nỗ lực đem mối quan tâm cho kế sinh nhai và an toàn thực phẩm của dân
cư ĐBSCL và cả lưu vực sông Mekong lên hàng quốc tế.
Người Việt trong nước cùng nhận thức được nhừng nguy cơ trên và tìm cách
bảo vệ sinh thái châu thổ và lưu vực. Nhìn lại quá khứ thật đáng khâm
phục, dân cư ĐBSCL đã tồn tại qua 60 năm chiến tranh; sau đó họ đã gánh
chịu thêm hơn 15 năm lầm than dưới chính sách khắt khe của chính sách
kinh tế xã hội chủ nghĩa; mãi đến thời kỳ “kinh tế đổi mới”, họ mới được
nới lỏng để canh tác; từ đó họ đánh phèn, rửa mặn, khai phá sâu vào các
cánh đồng chua nước mặn; họ chống lại những cơn hạn hán kỷ lục của thế
kỷ, họ sống chung cùng lũ lụt dồn dập đến chưa kể, vì địa thế, những thiệt
thòi ảnh hưởng chính trị so với cả nước.
Nông dân ĐBSCL đã nâng cao thu hoạch lúa, nâng Việt Nam lên quốc gia
đứng hạng thứ 2 về xuất cảng gạo trên thế giới. Họ đã đổ mồ hôi cày cấy
bằng những bàn tay không, những gót chân đất, họ đã đắp ra một mạng kinh
đào ngăn mặn và trị thủy 250 km trên khắp châu thổ. Họ đã có những thành
công, cũng có thất bại, nhưng tựu chung họ đã viết ra những trang bi hùng
sử về khả năng sinh tồn và bất khuất của dân cư châu thổ.
Nhưng nhìn về tương lai, họ còn rất nhiều mối thử thách cam go to lớn.
Từ thượng nguồn sẽ bị các đập Vân Nam Trung Quốc cản dòng ngăn chặn phù
sa, một phần dòng Mekong sẽ bị chuyển nước khỏi dòng chính, một phần chảy
bị bơm đi tưới tiêu nơi khác, phần còn lại sẽ mang ô nhiễm chất thải sinh
hoạt và kỹ nghệ xuống hạ nguồn. Các đập thượng nguồn đe dọa hệ sinh thái
duyên hải và chế độ thủy vận của sông Tiền sông Hâu. Việc gia tăng đào
giếng và bơm nước để canh tác và sinh hoạt tại châu thổ ĐBSCL sẽ làm tầng
nước ngầm thêm sa sụt. Mắt khác nước biển dâng lên do hâm nóng toàn cầu
sẽ đưa nước mặn lấn sâu vào các cửa sông và thấm sâu vào tầng nước ngầm
trong thềm lục địa.
Những yếu tố này kết hợp lại có khả năng đảo lộn hệ sinh thái, cướp đi
kế sinh nhai truyền thống nông ngư của dân cư và viễn ảnh duyên hải bị
biển nuốt dần, châu thổ dần dần dìm xuống so với mặt biển là nhưng tiên
liệu của khoa học địa cầu.