Trong chuyến về lại
Việt Nam vào đầu năm 2004, tôi có dịp viếng thăm miền trung Việt Nam chủ
yếu là ở ba thành phố chính: Huế, Đà Nẵng và Hội An. Huế thơ mộng đượm nét
Việt Nam, Hội An cổ kính với nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hoa kiều (Minh
Hương), và Đà Nẵng thì lại mới mẻ và năng động. Có lẽ đa số khách du lịch
sẽ chọn Huế hay Hội An là địa điểm đáng thăm nhất qua bề dầy lịch sử và
nét cổ kính của hai thành phố này. Nhưng chính Đà nẵng là nơi tôi chú ý
hơn vì ở đấy có Viện bảo tàng văn hoá Chăm chứa đựng nhiều bảo vật quý giá
của nền văn minh cổ Champa.
Trong lứa tuổi tuổi học trò ở trung học, tôi rất thích môn học lịch sử
và tò mò về vương quốc Chăm. Sự tò mò pha lẫn lãng mạng và nuối tiếc một
nền văn minh đã tàn lụi, có lẽ một phần bị ảnh hưởng từ tập thơ “Điêu
tàn” của Chế Lan Viên. Gần đây, tôi có dịp đọc tập thơ “Tháp Nắng” và
các bài nghiên cứu có giá trị về văn hoá Chăm của Inrasara (Phú Trạm),
một người Việt gốc Chăm. Cuộc hành trình trỡ về nguồn gốc Chăm của Inrasara
được kể lại rất chân tình và cảm động, làm tôi ray rức và càng muốn học
hỏi thêm về một bộ phận dân tộc và văn hoá ít được quan tâm đến ở Việt
Nam. Tôi đến thăm Viện bảo tàng Đà Nẵng với mục đích tìm hiểu về quá trình
phát triển mỹ thuật Chăm qua các phong cách khác nhau của các tháp Chăm.
Champa đã biến mất cách đây gần 2 thế kỷ, nay chỉ còn để lại các di tích
Chăm, rải rác ở các tỉnh Trung phần Việt Nam, như Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng
Dương, Khương Mỹ, Tháp Mẫm.. Viện bảo tàng Chăm, do nhà nghiên cứu Pháp
Parmentier thành lập năm 1919, đã thu thập các bảo vật, như tượng, bệ,
công trình kiến trúc, điêu khắc của các đền, cung điện.. từ nhiều nơi
để tồn giữ. Nhưng ngay tại đây, trãi qua nhiều biến cố lịch sử, các di
sản đặc sắc của văn minh Chăm cũng không thoát qua nhiều sự mất mát, lưu
lạc. Ngày 9 tháng 12 năm 1946, trong những ngày đầu của chiến tranh Việt-Pháp,
giữa sự hổn loạn và thiếu an ninh ở Đà Nẵng, viện bảo tàng đã bị xâm nhập.
Rất nhiều bảo vật cũng như tư liệu trong thư viện đã bi đánh cắp (1).
Hơn một năm sau, vào năm 1948, Trường Viễn Đông bác cổ đã gởi ông Manukus
đến để hồi phục lại viện bảo tàng. Hơn 150 bảo vật này đã được tìm lại
từ nhà dân, trại lính, phi trường và tận ở Lào (Savanakhet). Năm 1954,
Viện bảo tàng là nơi trú ngụ của khoảng 300 người dân di tản chiến tranh.
Năm Mậu Thân 1968, trong trận đánh chiếm lại Huế, Viện bảo tàng này đã
trở thành trại tập trung và là nơi ăn ở của quân đội Nam Việt Nam. Giửa
những sự sô bồ, hỗn độn, va chạm và không có sự bảo vệ và bảo trì như
vậy, thì sự hư hại, hay mất mác các tượng đá, các công trình điêu khắc
tất nhiên đã xảy ra. Gần đây trong năm 1996, các nhân viên viện bảo tàng
đã tình cờ tìm ra được 157 mảnh cổ vật đã được chôn dưới lòng đất trong
khuôn viên của viện bảo tàng.
Champa đã biến mất qua những cơn bảo lịch sử, nhưng di sản của nền văn
minh này cũng đã chịu đựng nhiều sự cố không may mắn. Một số phận hẫm
hiêu của nền văn minh Chăm ? Trải qua nhiều thế kỷ, các ngôi tháp Chăm
ở nhiều nơi bị hư hại và đổ nát bởi thời gian và do thiên nhiên tác động.
Theo Lê Quí Đôn thì Ngô Thế Lân, vào thế kỷ 18, đã để lại bài thơ, Chà
bàn cố thành hoài cổ, cho thấy tình trạng sơ sát, bỏ hoang của các tháp,
điện đài của vương quốc Champa cách đây hơn 200 năm(8).
Bóng tà dừng ngựa đứng
Man mác nỗi hư vong
Lăng uyển làm chùa Phật;
Cung đình thành ruộng cày
Núi tàn trơ tháp cổ;
Nước cũ hiện thành hoang
Thần đạo nguyên vô cứ;
Cửa tây tràn khắc bia
(bản dịch)
Không khác chi tình trạng hiện nay của nhiều tháp cổ khắp miền trung
Việt Nam.Trong cuộc chiến vừa qua, di tích Đồng Dương hầu như bị huỷ hoại
hoàn toàn do bom đạn . Một mất mác to lớn đối với những thế hệ về sau.
Hầu như tất cả những gì ta biết về văn minh Chăm là đứng từ góc độ của
người không phải Chăm. Ngày nay, trong sách giáo khoa Đại học của giáo
sư D. Hall về lịch sử Đông Nam Á (2), ta có thể biết tổng quát về lịch
sử đất nước Champa. Tuy vậy phần lớn dữ kiện từ sách của Hall là dựa vào
những công trình nghiên cứu tiên phong của các học giả Pháp như G. Coedes,
H. Parmentier và H. Maspero ở đầu thế kỷ 20.
Nói chung về khảo cổ và sử của các nước Champa, Cam Bốt và một số nước
khác ở Đông Nam Á thì chỉ vào đầu thế kỷ 20 người ta mới biết được nhiều
mà thôi. Trước đó không mấy ai biết nhiều về Cambodia có một nền văn minh
Angkor rực rỡ, cả sử của Nam Dương cũng mù tịt cho đến khi Coedes khám
phá ra vương quốc SriVijaya ở Sumatra, còn sử của Champa thì mù mờ, chỉ
biết qua tư liệu của các nước láng giềng như Việt Nam (Đại Việt sử ký
toàn thư) hay của Trung quốc (Tống sử, Minh sử..) đến khi Finot, Parmentier,
Majumdar và Maspero khám phá ra bằng phương pháp có hệ thống. Ngay cả
trong sử của Ấn độ, trước đây hoàng đế Ashoka chả ai biết nhiều, chỉ nghe
tên trong vài kinh điển Phật giáo, đến khi Princep khám phá ra qua bia
ký là có thật, một nhà vua hiền triết chuộng đạo Phật với một vương quốc
rộng lớn.