Loading...
Khai thác thủy điện Lan Thương giang - Những hứa hẹn của Trung Quốc và quan điểm hạ nguồn

Tóm lược về sông Lan Thương - Cửu Long

Lan Thương là một dòng sông quốc tế dài 4350 km phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Vân Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái, Cam Bốt vào sông Cửu Long tại Việt Nam. Sông Lan Thương có 5.000 mét thế năng nên Trung Quốc (TQ) đã khai thác thủy điện một cách đại quy mô trên dòng sông này. TQ đã xây nhiều hồ chứa vĩ đại để chạy nhà máy thủy điện, cung cấp điện cho đô thị, kỹ nghệ khai quặng mỏ, sản xuất, và bán cho Thái Lan và Việt Nam.

Dòng Lan Thương - Mekong là một hệ thống sinh thái phong phú thứ nhì của thế giới nay đang hứng chịu tác hại của các đại công trình TQ ở thượng nguồn. Dân tộc hạ nguồn cần biết rõ về chương trình này để đối phó với tác động thượng nguồn đổ xuống lưu vực và ảnh hưởng trên sự an tòan và sinh kế của họ. Tất cả những gì các quan chức và khoa học gia TQ tuyên bố hầu hết là liệt kê các mối lợi ích TQ sẽ mang cho hạ nguồn, nhưng không cam kết, và không đề nhận trách nhiệm nào hay đeề cập gì đến các tai hại mà hạ nguồn đang hứng chịu. TQ gạt bỏ sự lo ngại chính đáng là làm sao tránh các tai hại đã gây ra trên lưu vực sông Hòang Hà và Dương Tử không tái diễn trên lưu vực Lan Thương-Mekong.

Chính quyền TQ đã cho các Công ty Vân Nam hòan tất đập Mãn Loan, Đại Chiếu Sơn và Cảnh Hồng trong chuỗi 8 đập lớn chặn ngang dòng chính. TQ đã không công bố chi tiết kỹ thuật và phương án điều hành từ hai thập niên qua. Đập thứ 4 Tiểu Loan, sắp họat động có công suất lớn bằng cả 3 đập trước cộng lại. Sự thật là mối lo âu, quyền lợi và kế sinh nhai của các dân tộc hạ nguồn Mekong đã không được TQ coi trọng. Các nghiên cứu khoa học TQ đưa ra rất thiếu khách quan và trên các căn bản khoa học mù mờ. Các quốc gia hạ nguồn cũng có 7 dự án thủy điện của riêng họ mà TQ cũng khuyến khích ủng hộ. Hình 1(Nguồn TERRA).

Khi chính quyền TQ tích cực khai thác thủy điện, Hàn Lâm Viện Khoa Học (HLVKH)TQ cổ võ và biện bạch cho các kế họach này suốt 60 năm qua. Về ảnh hưởng cho hạ nguồn, HLVKH TQ cũng chỉ nói đến những lợi ích, gạt bỏ mọi ảnh hưởng tác hại và phóng đại khả năng chống lũ lụt và giảm hạn hán mà các hồ chứa của họ sẽ mang lại cho hạ nguồn. Mục đích bài này là duyệt xét những hứa hẹn của TQ và đưa ra những mối ưu tư của hạ nguồn trước công luận khoa học và thế giới.

Hứa hẹn 1: Thủy điện TQ và mối giao hảo tốt với các nước láng giềng

Ông Zhang Guobao, Phụ tá bộ trưởng Bộ Phát triển và Đổi mới, Giám đốc năng lượng, đã tuyên bố “Những công ty khai thác TQ đã gây dựng mối giao hảo thân thiện với các nước láng giềng và tinh thần hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á trên sông Mekong trong việc khai thác tiềm năng thủy điện của dòng sông này.”[1]

Thành quả của TQ thực ra là liên minh với các tập đòan điện lực và kỹ nghệ của Thái Lan và Việt Nam để bán điện[2]; cùng góp vốn và chia lời, và từ đó TQ củng cố vị trí thủy điện bằng thế lực chính trị hậu thuẫn các đối tác ấy. Liên minh này dựa vào lợi nhuận cho những đối tác và có nhiều quyền lực, trong khi đó, nguy hại cho môi sinh, an tòan và kế sinh nhai của hàng chục triệu dân cư lưu vực đang bị gạt bỏ ra ngòai.

Ông Zhang Guobao cũng nói là các công ty thủy điện TQ đã “lưu tâm nhiều đến tác động liên quốc ngay từ đầu, TQ đã khảo cứu về các tác động môi sinh và xem xét quyền lợi của các vùng từ thượng nguồn đến hạ nguồn để đưa ra tiêu chỉ cho việc thiết kế các dự án thủy điện Lan Thương.” [1]

Điều tuyên bố trên không đúng sự thật và có ý đánh lạc hướng dư luận. Sự thật là các tác hại cho hạ nguồn đã được bộ máy tuyên truyền TQ liên tục giảm thiểu qua các tường trình khoa học ngụy tạo không được kiểm chứng độc lập hay xác nhận bởi chuyên gia quốc tế độc lập. Ngay cả người dân TQ cũng đã không được thông báo chi tiết và không hề được tham vấn về những dự án này. Không ai biết rõ đồ án thiết kế, phương án điều hành, các biện pháp an tòan, kế họach đôi phó khi gặp nguy biến. Ngay tại TQ sau khi tai biến xảy ra và được quét dọn, chỉ trích thường bị ngăn cấm, nạn nhân bị lãng quên và sai lầm bị che dấu.

Phát triển bền vững và hợp tác quốc tế đều cần có sự quân bình; nhưng thế quân bình giữa áp lực phát triển và nhu cầu bảo tòan tài nguyên thiên nhiên, và thế quân bình giữa TQ và các quốc gia hạ nguồn dường như không có. TQ đã biến Lan Thương-Mekong thành một dòng sông sôi nổi tranh luận và tranh chấp quyền lợi. [3][4]

TQ đã không có nghiên cứu môi sinh khoa học thực sự hay tham vấn với công chúng trong lưu vực để có đồng thuận. Những tổ chức NGO của TQ chỉ mới được phôi thai từ năm 1999. Cơ chế và sự tham gia của công chúng vào các dự án phát triển còn rất yếu ớt. Dân cư lưu vực cần phương tiện theo dõi tìm hiểu dữ kiện và lên tiếng bảo vệ quyền lợi sống còn mình. TQ cần công khai cung cấp liên tục đầy đủ các dữ kiện khoa học và quan trắc tòan thể Lan Thương cho hạ nguồn theo dõi và nghiên cứu.

Hứa hẹn 2: Tác động nhẹ và chỉ có giới hạn xuống hạ nguồn

Chương trình thủy điện Lan Thương khởi đầu từ năm 1986. Đập Mãn Loan hòan tất năm 1993, theo sau là Đại Chiếu Sơn và Cảnh Hồng. Đập Tiểu Loan sẽ hòan tất năm 2010, trứơc dự tính hai năm, có công suất 4.2 triệu KW với chi phí 4 tỉ USD. Công trình Tiểu Loan này lớn thứ nhì của TQ chỉ đứng sau đập Tam Giáp trên sông Dương Tử.

Kỹ sư Ma Hongqi, kỹ sư chính của Công ty phát triển thủy điện Vân Nam và Hàn Lâm Viện TQ đã nói rằng đập Tiểu Loan, cao 292 m sẽ chỉ có tác động nhẹ “Khoa học gia TQ đã nghiên cứu cặn kẽ các tác động của Tiểu Loan xuống hạ nguồn trước khi xây đập và kết luận Tiểu Loan chỉ có tác động giới hạn xuống hạ nguồn”. [6]

Hứa hẹn 3: Không chuyển nước trên thựơng nguồn

TQ tuyên bố rằng các hồ chứa Vân Nam sẽ “ làm nhẹ đi nạn hạn hán cho hạ nguồn vào mùa khô và trung bình hạ nguồn sẽ có thêm 39.7% lưu lượng”. Việc này sẽ “tăng hiệu quả cho các công trình dẫn thủy dọc trên Mekong và giúp chống lại nước mặn xâm lấn vào đất liền.” [6 ]

Dù giới chức TQ trấn an dân cư hạ nguồn là đập Tiểu Loan sẽ không cắt giảm nước sông chảy xuống, nhưng việc điều hành hồ nằm trong tay quản lí của các công ty TQ có ưu tiên là sản xuất bán điện kiếm lời. Dân cư hạ nguồn không có cách nào an tâm TQ sẽ giữ nước và kiểm sóat được nước khỏi bị thất thóat vì sau khi nước hồ dâng đầy, rất dễ chuyển nước ra để dùng vào việc khác. Thực thế, từ khi đập Mãn Loan họat động, mực nước tại Chang Saen từ năm 1995-2004 đã lên xuống rất bất thường, nước chảy về Mekong đã giảm xuống thấp nhất trong 35 năm hồ sơ số liệu.[7]

Tác động của thủy điện quá to lớn mà 65 triệu người dân lưu vực vốn phải sống dựa vào dòng nước Mekong nên không thể giao phó tòan bộ kế sinh nhai của mình cho những công ty thủy điện TQ và guồng máy quản lí TQ mà không có cam kết bảo vệ và bồi thường. Điều cần thiết nhất là một hiệp ước quốc tế về Lạn Thương-Mekong có sự tham gia của cả 6 nước trong lưu vực.

Sự thất thóat nước ghê gớm vì thủy điện sẽ xảy ra từ khởi đầu mà TQ không đề cập và cả Mekong River Commission rất ít nhắc đến; hồ Tiểu Loan chẳng hạn, sẽ đọat ngay 15 tỉ mét khối nứơc làm đầy hồ trước khi họat động. Nếu chỉ giữ lại nửa lưu lượng Lan Thương lại tại hồ này, TS Tyson Roberts của viện nghiên cứu nhiệt đới Smithsonion đã ước tính phải mất ít nhất 10 năm. [8] Trong thời gian 10 năm này TQ không thể có dư nước để gởi về cho hạ nguồn vào nùa hạn. Hạ nguồn sẽ còn mất thêm 22 tỉ mét khối nữa cho đầy hồ Noushadu (Nọa Trát Độ) dự trù sẽ hòan tất vào năm 2014. Hạ nguồn sẽ mất tổng cộng và ít nhất là 41 tỉ mét khối cho 8 hồ chứa Vân Nam, tương đương 2/3 số nước hàng năm Vân Nam vẫn chảy xuống hạ nguồn.

Theo Scientific American, TQ cũng đã hứa hẹn khả năng trị thủy và chống hạn của chuỗi đập trên sông Dương Tử, nhưng năm 2008, chính China Daily, nhật báo TQ, đã phúc trình việc mực nước sông Dương Tử rút xuống thấp nhất trong 142 năm lịch sử của họ. Tàu bè mắc cạn tại Hồ Bắc và Giang Tây vì đập Tam Giáp đã cắt mắt 50% lưu lượng .

Scientific American tường trình “Giới chức TQ vẫn bào chữa cho dự án Tam Giáp là nguồn cung cấp năng lượng chính yếu cho một quốc gia khát điện như TQ mà còn là phương án chống lũ lụt cho hạ nguồn. Sau khi Tam Giáp hòan thành chính giới chức trách TQ đã phải nhìn nhận đã có những “nguy hiểm ngấm ngầm” có thể mang đến tai họa cho họ . Ông Wang Xiaofeng, người quản lí dự án thay mặt chính phủ TQ đã nói với giới khoa học tại Trùng Chính họ“không thể ngừng canh phòng và không thể hy sinh môi sinh mà đổi lấy món lợi kinh tế tạm thời”[9]

Items with the same category
  1. SÔNG MEKONG TRƯỚC NGUY CƠ 2012 VỚI “TINH THẦN MEKONG” LƯU VỰC CHÚNG TA CÙNG PHÁT TRIỂN - 1/28/2012
  2. The Siem Reap Meeting <br> A Fragile Agreement [12-08-2011] <br> for the Free Flowing of the Mekong’s Mainstream - 1/3/2012
  3. Hội Nghị Siem Reap <br> Một Thỏa Hiệp Mong Manh [08-12-2011] <br> Cho Dòng Chính Mekong Không Nghẽn Mạch - 12/29/2011
  4. XAYABURI: THE FIRST DOMINO IN THE SERIES OF MAINSTREAM DAMS IN THE LOWER MEKONG BASIN - 11/30/2011
  5. Dự án xây đập thủy điện Don Sahong (Nam Lào) và ảnh hưởng môi trường - 11/24/2011
  6. XAYABURI: CON CỜ DOMINO<br> TRONG CHUỖI ĐẬP MEKONG HẠ LƯU - 11/22/2011
  7. A NEW DAWN ON THE IRRAWADDY: <br> From the Myitsone Dam to the Series of Dams on the Mekong - 11/21/2011
  8. NGÀY MỚI TRÊN SÔNG IRRAWADDY<br>Từ Con Đập Myitsone Tới Chuỗi Đập Sông Mekong - 10/30/2011
  9. FROM THE MULTI-PURPOSE SEA DYKE TO THE FRESH WATER RESERVOIRS IN THE MEKONG DELTA - 7/17/2011
  10. TỪ CON ĐÊ BIỂN ĐA DỤNG NGĂN MẶN TỚI CÁC HỒ CHỨA NƯỚC NGỌT ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - 6/28/2011
  11. A SUMMARY THE MULTI-PURPOSE SEA DYKE - THE MEKONG DELTA <br>A POSSE AD ESSE – FROM POSSIBILITY TO REALIZATION - 5/28/2011
  12. MEKONG-CỬU LONG 2011NHÌN XA NỬA THẾ KỶ TỚI [2]<br> PHÁC THẢO DỰ ÁNĐÊ BIỂN ĐA DỤNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG<br> A POSSE AD ESSE / TỪ KHẢ NĂNG TỚI HIỆN THỰC - 5/8/2011
  13. ĐẤT NƯỚC TA LIỀN MỘT DẢI<br> MỤC NAM QUAN ĐẾN MŨI CÀ MAU - 4/17/2011
  14. MEKONG – THE OCCLUDING RIVER - 3/19/2011
  15. Lancang-Mekong Initiative<br> A foundation for the long term cooperation and prosperity for China and ASEAN - 2/24/2011
  16. MEKONG – CỬU LONG 2011<br> A LOOK FORWARD <br> INTO THE NEXT HALF CENTURY - 2/19/2011
  17. Global Ecology And the “Made in China” Dams - 1/30/2011
  18. MEKONG-CỬU LONG 2011<br> NHÌN XA NỬA THẾ KỶ TỚI - 1/30/2011
  19. Thực trạng bi đát của Lưu Vực sông Mekong<br> Phải cứu sông Cửu Long bằng<br> Sáng kiến Lancang-Mekong - 1/30/2011
  20. PRIME MINISTER HUN SEN AND THE WORST ECOLOGICAL DISASTER WHEN “THE HEART OF THE TONLE SAP” CEASES TO BEAT - 1/15/2011
  21. THE MEKONG AND MISSISSIPPI SISTER-RIVER PARTNERSHIP Similarities and Differences - 1/15/2011
  22. THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP - 12/5/2010
  23. THỦY ĐIỆN VÀ VẤN ĐỀ LŨ LỤT Ở VIỆT NAM - 11/16/2010
  24. MEKONG DÒNG SÔNG NGHẼN MẠCH - 11/7/2010
  25. SINH CẢNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG CON ĐẬP “MADE IN CHINA” - 6/30/2010
  26. Vị trí Bạch Long Vĩ trên bản đồ Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp Định Việt-Trung Năm 2000 và Google Earth - 4/19/2010
  27. Khai thác thủy điện Lan Thương giang - Những hứa hẹn của Trung Quốc và quan điểm hạ nguồn - 4/17/2010
  28. HAI DÒNG SÔNG KẾT NGHĨA MEKONG – MISSISSIPPI NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT - 12/4/2009
  29. A Vương – Nỗi Sầu Xứ Quảng Cứu lụt năm nay đừng quên tránh lụt năm sau - 11/6/2009
  30. Học giả và chuyên gia môi sinh Trung Quốc lên tiếng về độ an toàn của các đập nước trong vùng địa chấn Tây Nam Trung Quốc, kể cả Lan Thương (Mekong) - 10/10/2009
  31. NHỮNG CON ĐẬP LAN THƯƠNG* TRÊN VÙNG ĐỘNG ĐẤT VÂN NAM - 10/10/2009
  32. PHÁ GHỀNH THÁC/ MỞ RỘNG LÒNG SÔNG/ HỦY HOẠI SINH CẢNH: NGUỒN CÁ SÔNG MEKONG ĐANG CHẾT DẦN - 9/23/2009
  33. CALL FOR HYDROPOWER DAM SAFETY REASSESSMENT - 9/21/2009
  34. Mekong Trên Đường Suy Thoái - 8/28/2009
  35. MEKONG 2009<br> DÒNG SÔNG CÂM NÍN<br> MỘT TRUNG QUỐC ĐI SAU VỀ TRƯỚC - 8/2/2009
  36. MÙA XUÂN VÀ CÂU CHUYỆN CỦA DÒNG SÔNG - 2/4/2006
  37. Khí hậu và hiện tượng El Nino - 7/18/2005
  38. Lâm Ấp, Champa và di sản - 7/18/2005
  39. Mekong Dòng Sông Tranh Chấp - 7/18/2005

Tuesday, February 07, 2012
PETITION
We the undersigned wholeheartedly support the Chinese scientists and scholars’ petition and wish to join them in putting forward this petition again for the Chinese people overseas, the concerned Southeast Asian people living downstream of the Yunnan seismic faults and giant dams, the concerned world citizens on behalf of the millions people and their descendants - that the Chinese should set up a joint investigation team, which would include experts and scholars who have done long-term research in this field of study, to carry out the following tasks as soon as possible:
  1. Re-examine the seismic intensity originally set for each of all large-scale hydro dams in the southwest of China;


  2. Re-examine the risks posed by the cascades of dams and reservoirs to the downstream areas in the event of earthquakes;


  3. Conduct further studies to determine the risk that reservoirs could induce seismic activity (RIS) in geologically unstable regions;


  4. Make public the results of the re-examination and information generated;


  5. Prepare special emergency plan for the regions, where hydro dams have already been built, based on the conclusions obtained by the joint investigation team; and, at the same time, make necessary adjustments to official plans to massively and intensively develop southwest China’s water resources and construct cascades of hydro dams throughout rivers in southwest China in keeping with the principles of planning and environmental assessment.


  6. Temporarily suspend the approval of big hydro dams in geologically unstable areas in southwest China before carrying out all the above tasks.