Với một lãnh thổ
trải dài lên nhiều cao độ và vĩ tuyến, tạo hóa đã ban cho dân tộc Việt Nam
một hệ sinh thái đa dạng và nhiều kho tàng tích sinh học hiếm quý. Chiến
tranh đã hủy hoại đất nước và đày đọa nhiều thế hệ; ngày nay, để phát triển
kinh tế trong hòa bình, lâm sản, khoáng sản và thủy sản đã bị khai thác
kiệt quệ và nạn ô nhiễm đã lan tràn ra không khí, sông hồ, kinh rạch và
đất đai. Môi sinh bị đặt dưới áp lực nặng nề của dân số gia tăng và chính
sách khai thác tài nguyên ráo riết để xuất cảng trong tình trạng quản lý
thiếu kỹ thuật và thẩm quyền.
Khai thác đã lấn lên rừng già để làm than lấy gỗ, xuống vùng ngập mặn
phá tràm lấy chỗ nuôi tôm, lên cao xẻ núi lấy đá, đào sâu tìm giếng, khai
mỏ, hút dầu, và hàng ngày hàng triệu mét khối nước thải và chất thải đang
chảy thẳng vào sông hồ kinh rạch không hề xử lý. Thậm chí các chất thải
và rác rước còn để ứ đọng ngay trong các thành phố chật chội đông đúc,
để những trận lụt lội mang các nguồn bệnh tật rải rộng khắp nơi.
Lê Huy Bá, Nguyễn Ðức An, Lâm Minh Triết đã tường trình về các tình trạng
báo động gần như toàn diện: Ðất đai đang bị đá ong hóa tại nhiều nơi,
15% diện tích miền Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên đã biến thành "vùng
đất chết". Rừng vốn che phủ trên 45% diện tích đất, nay đã sa sút
chỉ còn 23%. Rừng ngập mặn nay chỉ còn 70% diện tích ngày trước. Trong
thành phố, ô nhiễm SO2 trong không khí lên 2 tới 10 lần, bụi bặm lên 20
tới 60 lần mức độ cho phép. Giếng UNICEF phải đào sâu đến 70 mét cũng
chỉ 15% là có nước dùng được. Rồi có khi chỉ 6 tháng sau cũng bị phèn
hóa. Hàm lượng ô nhiễm trong nước ở miền Nam, nơi xem là vựa lúa của cả
nước, lên gấp 2-10 lần, có khi 50 lần các chỉ tiêu của World Health Organization.
Việc đào giếng cẩu thả đang gây ô nhiễm những nguồn nước ngầm khác. Thành
phố HCM có 550.000 m3/ngày nước thải từ gia cư và 650.000-1.000.000 m3/ngày
nước thải từ công nghệ. [1,2,3] Mai Thanh Truyết cũng đã nhận định: Ô
nhiễm rất nguy hiểm vì ở miền Nam nước ngầm nằm không sâu, các chất ô
nhiễm rất dễ xâm nhập và lan truyền bậnh tật. Ðặc biệt ô nhiễm nitrate
trong nước gây ra bởi con người lẫn thiên nhiên có hiểm họa tử vong cho
thai nhi và trẻ sơ sinh, đã lên đến 80 mg/L gần gấp đôi lượng cho phép
nên cần phải đối phó cấp bách.[4]
Xã hội hiện nay thể hiện ra cảnh trạng ráo riết vơ vét tài nguyên thiên
nhiên, hủy hoại môi sinh, phó mặc cho các mầm bậnh tật gieo rắc trên hệ
sinh thái và xâm nhập vào các nguồn thực phẩm của mọi giống loài. Thế
hệ này đang ăn cạn kho thóc giống của mình, đi vệ sinh vào miệng giếng,
rồi bỏ lại cho thế hệ sau một gánh công nợ chất chồng và lãnh thổ mang
các vấn nạn môi sinh trầm kha tắc trách. Sự bảo toàn tài nguyên cho đất
nước, và lành mạnh của môi sinh cho dân tộc phải là điều thao thức trong
tâm tư của mọi người Việt. Nếu không niềm hãnh diện đã có "Ðổi Mới",
"Lãnh đạo tiến bộ sáng suốt" sẽ thành những mỉa mai chua xót
của dân tộc này trước thềm Thế Kỷ 21.
Việt Nam cần phải thực hiện ngay các biện pháp phòng ngừa và chế giảm
các tác hại môi sinh trong mọi chương trình phát triển ngắn lẫn dài hạn.
Việc lựa chọn một đường hướng kinh tế và chính trị khả dĩ bảo đảm sự bền
vững tương lai cho môi sinh của đất nước, cũng như nếp sống người dân,
phải được cân nhắc và đem lên hàng đầu bàn thảo công khai cả nước. Ðã
đến lúc phải huy động một Hội Nghị Diên Hồng về Tài Nguyên và Môi Sinh
để cứu lấy đất nước này.
Áp Lực Dân Số và Nghịch Lý
Dân số Việt Nam trung bình đã tăng 2.1% mỗi năm từ 1991 đến 1997. Tuổi
thọ trung bình của người Việt Nam là 68 tuổi. Tỷ lệ sinh sản mỗi bà mẹ
có 3.21 con. Ðổ đồng, mỗi người có 0,13 mẫu đất, ở hàng tệ nhất thế giới.
Miền Bắc còn tệ hơn, chỉ có 0,06 mẫu đất mỗi đầu người . Tỉ số dân Việt
biết chữ và tuổi thọ trung bình cao hơn so với các nước có ngang Tổng
Sản Lượng Quốc Gia (GNP). [5][6] Không nên lấy tin mừng này làm niềm hãnh
diện quá đáng vì tự nó là một nghịch lý bẽ bàng: Nếu dân ta sống lâu hơn,
khoẻ mạnh hơn, đi học đông hơn, thế sao ta lại không nuôi nổi mình mà
vẫn phải chịu cảnh nghèo đói ngang hàng với các dân tộc nghèo nhất thế
giới như vậy ? Chỉ số "GNP per capita" năm 1997 của Việt Nam
là US$320. Việt Nam thành nước nghèo thứ 24 trên thế giới. Transparency
International vừa tường trình trong 1998, Việt Nam có "Corruption
Perception Index" là 2.5, đứng vào hàng thứ mười trong các nước tham
nhũng nhất thế giới, ngang hàng vơi Kenya và Russia.[7]
Sự Chênh Lệch Giữa Nông Thôn Và Thành Thị
Chặng đường đầu tiên của sự thay đổi kinh tế tại Việt Nam là kế hoạch
Ðổi Mới. Việc giải thể cơ chế tập thể hóa đã mang lại một số thành công
cho nền kinh tế nông nghiệp. Nhưng chênh lệch giữa nông thôn và thành
thị đã trở thành một quốc nạn nổi bật. Ða số dân còn sống dưới mức nghèo
đói. Sau khi Ðổi Mới mức chênh lệch về lợi tức tăng lại nhanh. Ðến 30%
lợi tức cả nước nằm trong tay số 10% cao nhất .[8] Nạn thiếu hụt thực
phẩm ở những vùng nông thôn tiêu biểu kéo dài đến sáu tháng trong một
năm. [5] 45% Trẻ con đang thiếu dinh dưỡng. [8] Theo Japan International
Cooperation Agency (JICA), trở ngại to tát nhất trong việc phát triển
nông nghiệp Việt Nam là sự thiếu ổn định trong việc cung cấp thực phẩm,
sự nghèo nàn tuyệt cùng của nền kinh tế nông thôn, cộng thêm nạn thất
nghiệp tăng cao.
Cách biệt lợi tức sẽ dẫn đến những nguy hiểm sắp tới trong việc phát
triển đô thị bừa bãi. Nông dân khi hết đường xoay sở phải tìm cách vào
thành phố kiếm sống. Robin Broad đã tóm tắt: "Nếu khoáng sản của
bạn đang bị tiêu hao, rừng của bạn đang bị chặt đốn, đất đai của bạn đang
bị hao mòn, hải sản của bạn bị người khác đánh bắt, bạn còn con đường
nào để đi nữa ?"
Theo tài liệu cuả World Bank: "Nếu dân số đô thị gia tăng như kế
hoạch dự trù 5 đến 7% một năm, thì trong năm 2000 dân số ở đô thị sẽ lên
đến 24 triệu. Trường hợp này sẽ không có cách nào giải quyết được ...
bằng những khu nhà ổ chuột chật hẹp, và không tránh khỏi những vấn nạn
xử lý rác và chất thải". Mặc dù có những lời cảnh cáo thống thiết
này, chính đại diện Ngân Hàng đã công nhận rằng "trên thực tế",
những kế hoạch cho mượn tiền và chỉ đạo của cơ quan FDI lại tương đương
vơi một chiến lược đô thị hóa do chính World Bank (Ngân Hàng Thế Giới)
yểm trợ.