Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh,
làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển
và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” Điều 7 trong "Hiệp Ước Hợp Tác Phát
Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong" 1995.
“Sông Mekong đang bị đe dọa nghiêm trọng vì sự lạm dụng nguồn nước và
hậu quả của biến đổi khí hậu. Nếu không có một chính sách khai thác thận trọng
và hợp lý các nguồn tài nguyên sông Mekong, con sông hùng vĩ này không thể nào
sống còn”. Abhisit Vejjajiva, Hua Hin MRC Summit 2010.
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & VN 2020 Mekong Group
NỔ BÙNG THỦY ĐIỆN VÙNG HẠ LƯU
Khai thác thủy điện không phải chỉ có trên con sông Lancang – tên nửa chiều
dài sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc, mà ngay vùng hạ lưu cũng đang có
hiện tượng “nổ bùng thủy điện / explosion of hydropower”. Chỉ riêng
nước Lào nhỏ bé [diện tích chỉ lớn hơn tiểu bang Utah của Mỹ, dân số khoảng
6.5 triệu, ít hơn cả dân số thành phố Sài Gòn] vậy mà đã có hơn 77 dự án đập
trên các phụ lưu và dòng chính sông Mekong, hoặc đã hoàn tất, hoặc đang xây
hoặc sắp được triển khai. Phần lớn lượng điện sản xuất từ xứ Triệu Thớt Voi
“Lane Xang – the land of a million elephants” này là nhằm thu về ngoại
tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng [10-15% mỗi năm]
của hai nước láng giềng là Thái Lan và Việt Nam.
So với trước đây, khai thác thủy điện sông Mekong nay có phần dễ dàng hơn
khi mà nguồn tiền đầu tư có thể đến từ những ngân hàng thương mại địa phương
thay vì phải được tài trợ từ các tổ chức tài chánh quốc tế lớn như Ngân hàng
Thế giới / World Bank, Ngân hàng Phát triển Á châu / ADB.
Nhưng rõ ràng vẫn có rất nhiều khiếm khuyết trong các dự án đập hạ lưu trên
dòng chính sông Mekong. Thứ nhất là khả năng điều hợp xử dụng nước ra sao cùng
với chuỗi đập thượng nguồn của Trung Quốc, và không ai trả lời được là liệu
có đủ nước hay không để vận hành các turbines quanh năm nhằm bảo đảm công suất
cho mỗi con đập [ cũng là bảo đảm lợi nhuận ]; khi mà công ty xây đập chỉ biết
về xây dựng nhưng lại không có kỹ năng về thủy điện.
Giới lãnh đạo các quốc gia Mekong, phần do thiếu hiểu biết hoặc cố tình không
biết / wilful ignorance – theo ngôn từ của Milton Osborne, [5] nên chỉ thấy
những lợi nhuận trước mắt, mà không quan tâm gì tới hậu quả nghiêm trọng lâu
dài mai sau. Cư dân trong lưu vực sông Mekong liệu có hạnh phúc hơn không với
những bước phát triển không bền vững / unsustainable development như
hiện nay. Như với người dân Lào hiền hòa, từ bao nhiêu ngàn năm nay – Con Sông
Mẹ / Mea Nam Khong [ tên Lào Thái của con sông Mekong ] luôn luôn là mạch sống
của họ với phong phú nguồn cá và lúa gạo. Nay thì nếp sống cổ truyền và an bình
ấy bị đảo lộn, đang bị các chánh trị gia / hay đúng hơn là thiểu số lãnh đạo
xem dân họ như quá lạc hậu, nên cần mau chóng “canh tân”, bằng tận khai thác
nguồn thủy điện cho dù có những bằng chứng là họ đang giết chết Con Sông Mẹ
ấy. Nông và ngư dân Lào thì không được biết về mối hiểm họa, họ lại không có
tiếng nói và nếu có thì với một chánh quyền “không dân chủ” tiếng nói ấy cũng
chẳng được lắng nghe.
TỪ CON ĐẬP XAYABURI TỚI DON SAHONG
Xayaburi đã và đang gây nhiều tranh cãi vì là con đập dòng chính đầu tiên
vùng hạ lưu đang được Lào và Thái Lan xây dựng. Tưởng cũng nên ghi lại đây là
cho dù Hội Nghị Ủy Hội Sông Mekong ở Siem Reap [ 12/08/2011 ] đã có quyết định
tạm hoãn dự án đập Xayaburi, nhưng Lào thì không bày tỏ một cam kết là sẽ ngưng
xây con đập này. Surasak Glahan, phát ngôn viên của Ủy Hội Sông Mekong / MRC
cho biết là : “Trong Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Lào đã không đề cập gì tới
dự án đập Xayaburi.” Và Ủy Hội Sông Mekong và các quốc gia thành viên khác đã
chính thức gửi văn thư tới chánh phủ Lào yêu cầu cung cấp thông tin về con đập
Xayaburi nhưng không được một hồi âm.
Nay tên con đập Don Sahong cũng đang rất được lưu ý và nhắc tới; tuy là con
đập nhỏ nơi cực nam của đất Lào, sát biên giới Cam Bốt khoảng cách chỉ hơn 1
km, nhưng lại được xây dựng ngay trên thác Khone, nơi được coi như một khu bảo
tồn sinh thái phong phú nhất / global diversity value, nơi có triển vọng được
xem là vùng Đất ngập Ramsar / Ramsar Wetlands có tầm quan trọng toàn cầu [Ramsar
Convention on Wetlands là một thỏa ước liên quốc gia được ký kết tại Ramsar
[02/ 02/ 1971] bờ nam biển Caspian của Iran, với mục đích bảo tồn và khai thác
bền vững các vùng đất ngập qua sự hợp tác từ các cấp địa phương, cấp vùng, quốc
gia và quốc tế ]. Và hơn thế nữa, thác Khone cũng là trọng điểm của các loài
di ngư từ Biển Hồ Cam Bốt ngược dòng lên rất xa trên khúc sông Mekong thượng
nguồn Lào Thái để sinh sản. Để qua thác, các loài cá phải bơi qua các kênh nước
/channels thác Khone – nơi có hàng ngàn đảo nhỏ với chằng chịt những kênh rạch
nhưng chỉ có vài kênh nước chính là cá có thể lội qua được để lên thượng nguồn,
trong đó quan trọng nhất phải kể tới con kênh Hou Sahong dài 7 km từ đảo Don
Sahong đến đảo Don Sadam, vì kênh nước này rộng và cũng đủ nước quanh năm để
cá có thể lội ngược dòng ngay cả trong mùa khô. Dự án Don Sahong cũng có thể
làm tuyệt chủng / extinction hai loài cá hiếm qúy Pla Beuk / Pangasianodon gigas
và Irrawaddy Dolphin, được coi là hai chủng loại quan trọng / flagship species
biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái Sông Mekong.

Cá Pla Beuk / Pangasianodon gigas [nguồn: Tan S. Bunwath / WWF Cambodia]

Cá Irrawaddy Dolphin Mekong [nguồn: Kratie Province Government, Cambodia]
Đã có rất nhiều chứng cớ là con đập thủy điện Don Sahong, tuy chỉ cao khoảng
30-32 m với công suất 240-360 MW [nhỏ nhất so với 11 dự án dòng chính vùng hạ
lưu] nhưng lại có tác hại vô lường trên toàn hệ thủy sinh thái nhất là đối với
nguồn cá phong phú của con sông Mekong, vì đây là điểm quy tụ tối đa của các
đoàn di ngư / migratory fish trên sông Mekong. Phần lớn lượng cá mà ngư dân
Lào và Thái lưới bắt được trên thượng nguồn cũng là từ các đoàn di ngư lội ngược
dòng từ thác Khone. Kể cả nguồn cá của các phụ lưu lớn sông Mekong như sông
Mun [Thái], sông Xedon, sông Xebanghieng [Lào] cũng phụ thuộc vào các đoàn di
ngư từ vùng ghềnh thác này. [4]
Giới am hiểu và theo dõi tình hình nước Lào, nhận định trường hợp con đập
Don Sahong có một lịch sử lâu dài hơn nhiều, phản ánh một nền cai trị rất phức
tạp theo lãnh địa của xứ Lào. Nhà nước Lào tuy là một chánh quyền Đảng trị,
đảng Cộng Sản Lào, giống mô hình Việt Nam – nhưng vẫn không tránh được nét phong
kiến gia đình trị trong hệ thống ấy. Điển hình là quyền lực của gia đình Siphadone
phía Nam Lào. Khamtay Siphadone tuy không còn là tổng thống Lào [1998 – 2006],
nhưng gia đình ông thì từ trước đó và cả sau này vẫn cứ thống lĩnh một tiểu
vương quốc phía Nam, trong đó có vùng thác Khone hay còn có tên gọi là Tứ Thiên
Đảo / See Phan Done thuộc tỉnh Champasak. Rất sớm, vào giữa thập niên 90s, gia
đình Siphadone đã cho phép công ty Mã Lai xây dựng một trung tâm du lịch tráng
lệ phía trên vùng thác Khone: bao gồm một khách sạn 5 sao với 2,000 buồng, một
sân Golf 18 lỗ với hai sòng bài và cả một sân bay có thể đón loại phản lực cơ
Boeing 737. Dự án ấy phải tạm ngưng do cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu 1997.
Nhưng rồi một kế hoạch khác cũng có liên hệ tới dự án khu du lịch, do người
con trai của Khamtay Siphadone, nguyên thống đốc tỉnh Champasak, ký kết với
một công ty Mã Lai khác có tên là Mega First Corporation Berhad, tiến hành xây
đập thủy điện Don Sahong ngay trên thác Khone nhằm cung cấp điện cho khu du
lịch mà phần lớn sở hữu là của gia đình Siphadone và cả bán điện cho Cam Bốt
và Thái Lan.
Thấy được mối hiểm nguy của con đập Don Sahong trực tiếp đối với vựa cá của
Cam Bốt nên cuối năm 2007, Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt / Cambodian National
Committee đã gửi thư phản đối tới chánh phủ Lào, nhưng hoàn toàn “không
được hồi âm”. Tháng 11, cũng năm 2007 tại Hội nghị Siem Reap, phái đoàn
Cam Bốt và các tổ chức NGO một lần nữa lên tiếng phản đối dự án đập Don Sahong,
và yêu cầu đáp ứng từ Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong / MRC Secretariat, và sau
đó thì MRC cũng gửi bản lượng giá với “những nhận định chỉ trích / critical”
về con đập Don Sahong tới chánh phủ Lào, và một lần nữa bị chánh phủ Lào “coi
như không có” và vẫn cứ tiến hành ký kết bản Hợp đồng Dự án Phát triển
/ Project Development Agreement với công ty Mã Lai Mega First để tiếp trục triển
khai con đập thủy điện Don Sahong.

Đập Thủy Điện Don Sahong 240-360 MW trên Thác Khone [nguồn: Milton Osborne, The Mekong River Under Threat]
Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen cũng đã tới Lào [03/2008] để thảo luận về dự án đập
Don Sahong do ảnh hưởng di hại trực tiếp tới Cam Bốt. Nhưng sau đó, theo Milton
Osborne với lý do thật khó hiểu là Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt nhận được
chỉ thị là phải ngưng chỉ trích công khai / public criticism dự án đập Don Sahong
[5].
[Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là Cam Bốt cũng có dự án đập thủy điện Sambor
– cùng với Don Sahong, được coi như một trong hai “tử huyệt” đối với các loài
cá sông Mekong]
Điều đó có nghĩa là dự án đập Don Sahong sẽ vẫn cứ được tiến hành và chánh
phủ Lào thì được chia 20% cổ phần / shares của dự án. Don Sahong tuy nhỏ hơn
cả những con đập phụ lưu trên đất Lào, nhưng lại có tầm quan trọng của một “phát
súng thi ân / coup de grâce” đối với cả một nguồn cá nước ngọt phong phú
nhất của hành tinh này, có nghĩa làm mất 80% nguồn protein của hàng triệu cư
dân phụ thuộc vào nguồn cá [3 triệu tấn/ năm], và sẽ ảnh hưởng lâu dài hơn nữa
tới tình trạng dinh dưỡng vốn đã thiếu thốn từ bao năm rồi.
“Cho dù các quốc gia Mekong khác nói gì đi nữa, thì họ – đây là Lào và
Thái, vẫn quyết tâm tiến tới trong năm 2012 này.” Một cựu viên chức trong
phân bộ thủy điện Lào, phát biểu với yêu cầu được ẩn danh, là chánh phủ Lào
đã dứt khoát có quyết định xây con đập Xayaburi.
Piaporn Deetes, điều hợp viên truyền thông Thái Lan của tổ chức Mạng lưới
Sông Quốc tế / IRN đã nhận định:
“Cố tình hoạt động bên ngoài tầm theo dõi của Ủy Hội Sông Mekong, Thái
Lan và Lào đã gây tổn thương cho tinh thần hợp tác vùng và những nguyên tắc
của Hiệp định Sông Mekong 1995; và cũng không có gì ngạc nhiên về sự vận động
mạnh mẽ của công ty xây đập Ch.Karnchang để tiến tới, và cũng là điều khó có
thể chấp nhận được khi chánh phủ Thái đã cúi mình trước tập đoàn xây đập thay
vì phải bảo vệ quyền lợi của dân chúng.”
Phillip Hirsch, giám đốc Úc Châu của Trung Tâm Tài Nguyên Mekong, thuộc Đại
học Sydney cho rằng “Không chỉ có những mất mát về hệ sinh thái; những con
đập còn có những ảnh hưởng tác hại to lớn về phương diện kinh tế. Theo một cuộc
khảo sát mới đây, cái giá về kinh tế phải trả cho tổn thất về môi trường có
thể lên tới 274 tỉ MK.” [8]
Không những thế, Lào còn thông báo cho Ủy hội Sông Mekong / MRC dự định tiến
hành các dự án khác trên dòng chính và phụ lưu sông Mekong. Tưởng như rất vô
lý nhưng điều ấy thì vẫn cứ xảy ra!
Và rõ ràng, như một mẫu ứng sử riêng lẻ của nhà nước Lào, nhưng có tính cách
liên tục và nhất quán: Không nghe, không hồi đáp, vẫn tiến hành: đó
là cách hành xử không thể gọi là văn minh trong bang giao quốc tế ở thế kỷ 21
này. Chánh phủ Lào đã chứng tỏ là không tôn trọng tinh thần của Điều 7 trong
"Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong"
1995 đã ký kết và đơn phương chọn quyền lợi riêng tư ngắn hạn nhưng với cái
giá phải trả của các nước lân bang. Cho đến nay những khuyến cáo và khả năng
điều hợp của MRC đã hơn một lần tỏ ra vô hiệu.
TỪ NGHIÊN CỨU “LƯỚI BẮT VÀ NUÔI CẤY 2008”
Cách đây hơn 3 năm [12/2008] Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong cho ấn hành bản
nghiên cứu với nhan đề “Lưới Bắt và Nuôi Cấy / Catch and Culture” đã nêu ra
5 câu hỏi vấn nạn như sau:
(1) Đặc tính và tầm quan trọng của các đoàn di ngư / fish migration trên sông
Mekong ra sao? (2) Ảnh hưởng rào chắn của những con đập trên các đoàn di ngư
ra sao? (3) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage facilities ra sao với
các đoàn di ngư lội ngược dòng? (4) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage
facilities ra sao với các đoàn di ngư xuôi dòng? (5) Làm sao đền bù thiệt hại
cho ngư dân bị mất mát nguồn cá do những con đập?
Giải đáp và cũng là kết luận của bản nghiên cứu cho rằng: (a) Nguồn cá và
tài nguyên con sông Mekong có tầm quan trọng cơ bản đối với nền kinh tế và xã
hội của các quốc gia Mekong và những cộng đồng cư dân vùng hạ lưu; (b) Khác
với những con đập phụ lưu, những con đập dòng chính sông Mekong nhất là với
những con đập nơi khúc giữa và khúc dưới sông Mekong vùng hạ lưu sẽ có ảnh hưởng
tác hại lớn lao hơn nhiều; (c) Các chuyên gia của nhóm nghiên cứu cho rằng khả
năng chế tạo loại “turbines thân thiện với cá / fish friendly turbines” hay
đường dẫn cho cá cho dù với tên gọi gì đi nữa [ như bậc thang cá / fish ladders,
thang nâng cá / fish lifts, hay đường dẫn cá / fish passages ] thì hiệu quả
chỉ có trên lý thuyết do tầm vóc quá lớn lao của các đoàn di ngư trên dòng chính
sông Mekong. Một ví dụ về thử nghiệm thang cá đã thất bại nơi đập Pak Mun [Thái
Lan] vào thập niên 90 cho dù các đoàn di ngư nhỏ hơn rất nhiều, nguyên do cá
sông Mekong không phải là chủng loại cá Salmon như ở Bắc Mỹ nên không có khả
năng nhảy đập để về nguồn. [2]