Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & VN 2020 Mekong Group
“Không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải di rời. Vấn đề lớn
hơn thế rất nhiều. Đa số cư dân phụ thuộc vào nguồn cá từ các đoàn di ngư, do
đó an ninh lương thực trong vùng là điều tối quan trọng cần lưu tâm khi khai
thủy điện sông Mekong.” Eric Baran, WorldFish Centre.
“Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong
thời đại chúng ta. Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu
quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói,
tăng sức mạnh phụ nữ...Nước chính là chủ đề quan trọng đó.” Hillary Rodham Clinton, World Water Day 2010.
NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI VÀ NHỮNG CHỦ ĐỀ
Cách đây 19 năm kể từ 1993, Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 3 mỗi năm
là Ngày Nước Thế Giới / World Water Day, do sáng kiến từ Hội nghị Môi Sinh và
Phát Triển/ United Nations Conference on Environment and Development/ UNCED
tại Rio de Janeiro, Brazil [1992].
Có thể nói, nước là biểu hiện của sự sống, vì thế mỗi khi tìm ra tín hiệu
có nước trên một vì tinh tú xa xôi thì các nhà khoa học thiên văn đã lạc quan
cho rằng có thể có sự sống và sinh vật ở trên đó. Trái đất này sẽ là một hành
tinh chết nếu không có nước. Nhưng trước mắt, thì thiếu nước đang là một vấn
nạn ngày càng trầm trọng của thế giới chúng ta đang sống hiện nay.
Ngày Nước Thế Giới, như cơ hội để mọi người quan tâm tới tầm quan trọng của
nguồn nước ngọt / freshwater và cùng nhau vận động hỗ trợ cho những phương cách
quản lý bền vững các nguồn nước ấy.
Mỗi năm Liên Hiệp Quốc đều chọn ra một “chủ đề” cho Ngày Nước Thế Giới để
tập trung vận động qua những cuộc hội thảo, qua các phương tiện truyền thông
và giáo dục xoay quanh mỗi chủ đề này.
Điểm qua các chủ đề ấy theo thứ tự thời gian: 1994 Nước Nguồn Tài nguyên chúng
ta cùng bảo vệ; 1995 Nước và Phụ nữ ; 1996 Nước cho Các Đô thị thiếu khát; 1997
Nước Thế giới: Có đủ không? 1998 Nước Ngầm: Tài nguyên không thấy; 1999 Mọi
Người sống Dưới nguồn; 2000 Nước cho Thế kỷ 21; 2001 Nước cho Sức khỏe; 2002
Nước cho Phát triển; 2003 Nước cho Tương lai; 2004 Nước và những Thảm họa; 2005
Nước cho Cuộc Sống; 2006 Nước và Văn Hóa; 2007 Nước Thiếu hụt trên Thế giới;
2008 Nước và Vệ sinh; 2009 Nước Xuyên các Quốc gia; 2010 Nước Sạch và Sức khỏe
Thế giới; 2011 Nước cho các Đô thị…
NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI NĂM NAY 2012
Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực
/ Water & Food Security”, do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc điều
hợp [ Food and Agriculture Organization of the UN ]. Với nhận định: hiện có
7 tỉ người phải nuôi ăn trên hành tinh này; dự trù thêm 2 tỉ người nữa vào năm
2050. Mỗi chúng ta uống từ 2 tới 4 lít nước mỗi ngày; phần lớn lượng nước “uống”
ấy nằm sẵn trong thực phẩm mà chúng ta ăn: để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới
15,000 lít nước, trong khi 1 kg ngũ cốc cần 1,500 lít nước, 1 kg rau trái chỉ
cần 1,000 lít nước nghĩa là 15 lần ít hơn. Hiện trạng trên thế giới đã có “một
tỉ người đói kinh niên / chronic hunger” và nguồn tài nguyên nước thì co
cụm lại khắp nơi. Để đương đầu với tình trạng nổ bùng dân số, bảo đảm an ninh
lương thực cho mọi người thì cần tới những hành động cụ thể như:
(1) Tiêu thụ sản phẩm cần ít nước; (2) Giảm phí phạm lương thực: 30% lượng
thực phẩm không bao giờ ăn tới, có nghĩa là mất một lượng nước lớn để sản xuất;
(3) Gia tăng lượng lương thực nhiều hơn, có phẩm chất hơn và tiêu thụ nước ít
hơn; (4) Theo một chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, với ngũ cốc rau trái thay
vì ăn nhiều thịt.
Tất cả những bước ấy, từ quá trình sản xuất tới tiêu thụ, làm thế nào để tiết
kiệm nguồn nước và bảo đảm lương thực cho mọi người. “Nước và An ninh Lương
thực” đó trọng điểm trong cuộc vận động nhân ngày Nước Thế Giới 2012 năm
nay.
H.1_ Logo World Water Day 2012, mang rất nhiều ý nghĩa với “Nhánh Lúa và
Cá” cũng là hai biểu tượng cho nguồn lương thực của con Sông Mekong. Đã có có
một nền “Văn minh Lúa Gạo và Cá” trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong / GMS và nền
văn minh ấy đang lâm nguy.
José Graziano da Silva, tân giám đốc Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc [với
nhiệm kỳ ba năm rưỡi 2012-2015] trong cuộc họp báo nhậm chức ở Rome ngày 3 tháng
01/ 2012 đã đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng: hoàn toàn xóa nạn đói và suy
dinh dưỡng trên toàn cầu. Ông phát biểu “Chấm dứt nạn đói đòi hỏi quyết tâm
của mọi người: không phải chỉ có Tổ chức Lương Nông, hay bất cứ cơ quan, chánh
phủ riêng lẻ nào mà có thể thắng được cuộc chiến này, mà phải cần tới những
phương thức hành động thật sự “trong sáng và dân chủ / transparent and democratic
way” cùng với các quốc gia thành viên, các cơ quan của Liên Hiệp Quốc,
khu vực tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm đầu tư khác.” [1]
Người ta có thể thấy ngay là “phương thức hành động trong sáng và dân
chủ” chính là điều rất thiếu vắng trong các quốc gia Mekong.
Cách đây hai năm, nhân Ngày Nước Thế Giới 2010 với chủ đề “Nước Sạch và
Sức khỏe Thế giới”, Ngoại trưởng Hillary Roddham Clinton đã phát biểu:
“Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại
chúng ta.” Bà Clinton nhận định tiếp, “Không phải mỗi ngày chúng ta tìm
được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu
sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ, thăng tiến quyền lợi an ninh quốc
gia chúng ta, bảo vệ môi trường, và cùng chứng tỏ với hàng tỉ người trên thế
giới là nước Mỹ quan tâm tới sự an sinh của họ. Nước chính là nan đề đó.”
[2]
HỆ SINH THÁI SÔNG MEKONG
Mekong được đánh giá là một trong những hệ thống sông rạch phức tạp nhất thế
giới. Với chiều dài 4,900 km, là con sông dài thứ 11 của toàn cầu cũng là con
sông dài nhất Đông Nam Á chảy qua 6 quốc gia, gần gấp hai chiều dài sông Colorado.
Tài nguyên lưu vực con sông nuôi dưỡng 70 triệu cư dân, chỉ riêng nguồn cá đã
đem lại hơn 2 tỉ MK mỗi năm.
Dòng chảy Mekong tương đương với lưu lượng con sông Mississippi với tẩm đẫm
phù sa, rất biến thiên với hai mùa Mưa Nắng. Trong mùa Mưa chỉ có khoảng 16%
lượng nước đổ xuống từ Vân Nam Trung Quốc. Nhưng trong những tháng mùa Khô,
thì lượng nước thượng nguồn ấy lại tăng tới 40%. Do sự phức tạp của lưu vực
sông Mekong, hiện tượng hạn hán và lũ lụt cũng rất biến thiên theo từng khúc
đoạn từng vùng. [2]
Biển Hồ và sông Tonle Sap là một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, với một chu
kỳ gần như độc nhất vô nhị trên hành tinh này: Tonle Sap là con sông chảy hai
chiều và diện tích Biển Hồ thì co dãn theo mùa. Là hồ cạn với diện tích 2,500
km2 trong mùa Khô, nhưng tới mùa Mưa, bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con
sông Mekong dâng cao tạo sức ép khiến con sông Tonle Sap phải đổi chiều; nước
từ khúc sông Mekong thượng nguồn chảy ngược vào Biển Hồ khiến nước hồ dâng cao
từ 8 tới 10 mét và tràn bờ, làm tăng diện tích Biển Hồ gấp 5 lần lớn hơn, khoảng
12,000 km2. Joseph Yun, phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Đông Á và Thái Bình Dương
đã đưa ra một so sánh rất tượng hình là lượng nước Biển Hồ ấy đủ để bao phủ
toàn diện tích hơn 20 ngàn km2 của tiểu bang New Jersey với hơn 3 mét nước cao.
[2]

H.2_ Em Bé Khmer và Cá: 80% nguồn protein của người dân Cam Bốt là từ Cá
Photo by Ngô Thế Vinh, Tonle Sap 2001
Do tiềm năng dự trữ nước rất lớn theo mùa, Biển Hồ có thể điều hòa lưu lượng
con sông Mekong, giảm thiểu lũ lụt trong mùa Mưa, duy trì dòng chảy tối thiểu
trong mùa Khô, đồng thời ngăn chặn nước biển không lấn sâu thêm vào vùng châu
thổ.
Biển Hồ có một vai trò điều hợp sinh tử đối với hệ sinh thái vùng Hạ Lưu:
không chỉ là vựa cá quan trọng nhất của Cam Bốt, mà nguồn nước ấy là thiết yếu
cho vựa lúa cùng với kỹ nghệ nuôi cấy thủy sản như cá basa xuất khẩu của của
Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL]. ĐBSCL không chỉ là cái nôi lúa gạo cho toàn
Việt Nam, vốn cũng là quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan.
Theo Chương Trình Phát Triển của Liên Hiệp Quốc / United Nations Development
Program thì tình trạng sản xuất lúa gạo ở Việt Nam năm 2010, đã bị ảnh
hưởng nặng nề do thay đổi khí hậu và do các con đập thủy điện thượng nguồn.
Có thể nói Sông Mekong là “mạch sống – lifeline” của bao nhiêu triệu
cư dân trong Lưu Vực. Nông và ngư nghiệp chiếm tới 85% lực lượng lao động: nông
dân thì phụ thuộc vào nguồn nước và phù sa; ngư dân thì sống bằng nguồn cá thiên
nhiên của con sông, cá không chỉ là nguồn protein động vật chính trong dinh
dưỡng mà còn đem lại lợi tức đáng kể cho họ. Do đó nông và ngư dân Lưu Vực sông
Mekong sẽ là những nạn nhân trực tiếp bị ảnh hưởng do bất cứ một thay đổi hủy
hoại nào trong môi trường sống của họ.
Với thay đổi khí hậu, lưu vực sông Mekong sẽ là một trong những vùng chịu ảnh
hưởng tác hại nhất, do đa số cư dân sống trên những cánh đồng lũ / floodplains
và các vùng ven biển thấp [ĐBSCL]. Sự đa dạng sinh học của toàn vùng cũng bị
đe dọa bởi những ảnh hưởng tích lũy trực tiếp hoặc gián tiếp do thay đổi khí
hậu, cộng thêm với sự tác hại của những con đập thủy điện đầy những khiếm khuyết
về phương diện kỹ thuật và đang phát triển vội vã như hiện nay.

H.3_ Nhánh Lúa Lai Tạo / Hybrid Rice từ Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế
IRRI, tăng năng xuất từ 1-1.5 tấn cao hơn cho mỗi hecta, là một đóng góp quan
trọng cho phát triển nông nghiệp Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Trong khi không thiếu bài học về “những dòng sông chết trên thế giới”
mà các nhà lãnh đạo sông Mekong không chịu học hay cố tình không biết – wilful
ignorance, vẫn theo ngôn từ của Milton Osborne; điển hình như con sông
quốc tế Indus cũng phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng dài 3,200 km chảy qua hai
nước Ấn Độ và Pakistan, vốn một thời là con sông hùng vĩ từng là cái nôi của
những nền văn minh, nay chỉ vì do xây quá nhiều đập / heavily dammed
nên đã không còn đủ nước chảy ra tới biển Ả Rập / Arabian Sea. [4]
Trở lại với con sông Mekong, chỉ để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển,
các quốc gia Mekong vội vã hướng tới khai thác nguồn thủy điện của con sông
này. Điều mà họ ít quan tâm tới là khi xây các con đập trên dòng chính có thể
gây tác hại tức thời và cả lâu dài tới “an ninh lương thực” của bao nhiêu triệu
cư dân trong lưu vực.
Cái giá phải trả về kinh tế do các con đập gây ra rất cao, nhưng vì những hứa
hẹn lợi nhuận to lớn trước mắt do thủy điện có thể đem lại; mỗi con đập cho
dù lớn nhỏ đều có ảnh hưởng trên dòng chảy và sinh cảnh của con sông. Chỉ một
con đập xây không đúng chỗ như con đập Don Sahong Nam Lào, có thể ngăn chặn
các đoàn di ngư, ảnh hưởng trực tiếp trên nguồn cá cũng là nguồn protein chính
của cư dân trong lưu vực. Hoặc một con đập thiết kế kém với nhiều khiếm khuyết
như con đập Sambor phía Bắc Cam Bốt, có thể làm giảm nguồn nước ngọt, làm mất
nguồn phù sa, tăng nạn nhiễm mặn và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất lúa gạo
không chỉ của Cam Bốt mà cả ĐBSCL của Việt Nam.
Với chuỗi đập bậc thềm Vân Nam / Lancang-Mekong Cascade nơi Lưu Vực Trên /
Upper Mekong Basin chắc chắn có ảnh hưởng đáng kể trên dòng chảy thiên nhiên
của con sông Mekong. Theo Fred Pearce, thì vào đầu thập niên tới, chuỗi đập
Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong
trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã
trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ. [6]
Nhưng chuỗi đập dòng chính nơi Lưu Vực Dưới / Lower Mekong Basin sẽ có ảnh
hưởng nghiêm trọng hơn nhiều đối với các quốc gia hạ lưu, đặc biệt là với Biển
Hồ của Cam Bốt và ĐBSCL của Việt Nam. Người ta đã nói tới những con đập dòng
chính trên đất Lào, nhưng cũng đừng quên rằng ngay trên đất Cam Bốt đã có hai
dự án Stung Streng 980 MW và Sambor 2,600 MW gây ảnh hưởng tác hại trực tiếp
trên sản lượng cá của Biển Hồ và làm mất nguồn phù sa nơi ĐBSCL. Chấp nhận xây
dựng hai con đập ấy ngay trên đất Chùa Tháp, Nam Vang như cầm súng tự bắn
vào chân mình / shoot oneself in the foot, một thứ self-inflicted injury
– và Việt Nam cũng không tránh được những tổn thất liên hệ / collateral damages.
Không thể phủ nhận thủy điện vẫn là nguồn năng lượng giá trị, nhưng chừng nào
mà cái giá rất cao phải trả về môi sinh được lượng giá đúng mức và tiến hành
một cách thận trọng và có trách nhiệm. Để có con đập thủy điện mới, có những
cây cầu và đường xá mới không thể không đồng thời cũng phải đối chiếu với cái
giá phải trả về môi trường và cả trên cuộc sống cư dân ra sao. Ví dụ như nước
Lào, với nguồn thủy điện phong phú có thể xuất cảng để thu về ngoại tệ cho phát
triển kinh tế, nhưng nếu không có những bước nghiên cứu thận trọng thì đó chỉ
là bước phát triển rất ngắn hạn không bền vững với nhiều tổn thất trước mắt
và lâu dài trên môi sinh và cuộc sống xã hội của chính những người dân Lào.